Tại sao cần có 1 TVC Quảng cáo???

Nếu là khán giả truyền hình trung thành, hẳn bạn sẽ không còn xa lại với các chương trình quảng cáo. Thậm chí, có đoạn quảng cáo quen thuộc đến nỗi khán giả chỉ nghe nhạc cũng đoán ra đó là đoạn quảng cáo cho thương hiệu nào. Ngày nay, quảng cáo truyền hình dần gây được ấn tượng mạnh hơn, mặc dù xem đi xem lại rất nhiều lần nhưng bạn vẫn cảm thấy bất ngờ trước những tình tiết thú vị và hình ảnh độc đáo trong đó. Đi xa hơn mục đích quảng bá một thương hiệu, nhân hiệu, các nhà sản xuất TVC chuyên nghiệp còn qua đó gửi gắm những thông điệp nội dung ý nghĩa và giá trị.
TVC là gì?
TVC quảng cáo là từ viết tắt của cụm từ Television Commercial . TVC Thường có độ dài: 10 giây, 15 giây, 20 giây, 30 giây, 60 giây kết hợp âm thanh và hình ảnh chuyển động và âm thanh để nói lên một câu chuyện qua đó quảng cáo về sản phẩm dịch vụ hay nói trực tiếp tới sản phẩm dịch vụ, thương hiệu của doanh nghiệp.
TVC thường được nhà đài phát sóng xen kẽ vào trước, giữa, hoặc sau nội dung chính của một chương trình. Thể loại quảng cáo này luôn có sức lan tỏa rộng, đối tượng khán giả đa dạng và không bị ràng buộc bởi không gian, thời gian và khoảng cách địa lý.
TVC có thể mang nội dung về một câu chuyện của nhân vật nào đó, thường là những người nổi tiếng, hoặc có tầm ảnh hưởng trong xã hội, họ chia sẻ về những trải nghiệm về sản phẩm. Hoặc có thể là những hình ảnh khơi gợi sự quyến rũ, những hình ảnh nêu cao giá trị nhân văn như gia đình, cộng đồng…hoặc đơn giản nó chỉ sản phẩm được xây dựng trên hiệu quả kỹ xảo đặc biệt.
TVC Quảng cáo xuất hiện khi nào?
TVC quảng cáo đầu tiên trên truyền hình được ghi nhận có trả phí, được phát sóng vào ngày 1/7/1941 tại New York, trên kênh 4 của Đài truyền hình NBC, nội dung của đoạn quảng cáo này giới thiệu về sản phẩm đồng hồ hiệu Bulova.
TVC quảng cáo xuất hiện đầu tiên trên sóng truyền hình tại Châu Á, được ghi nhận xuất hiện vào ngày 28/8/1953 ở Thủ đô Tokyo, Nhật bản trên kên truyền hình Nippon TV và thật ngẫu nhiên khi đoạn quảng cáo này cũng giới thiệu về một loại đồng hồ có tên là Seikosha và Seikosha chính thương hiệu đồng hồ Seiko nổi tiếng sau này.
TVC được quảng cáo ở đâu?
Quảng cáo trên truyền hình: là loại hình xuất hiện đầu tiên và hiện tại cũng được áp dụng phổ biến
Quảng cáo trên LCD: quảng cáo tại các màn hình ở các tòa nhà, bệnh viện, siêu thị, trung tâm thương mại.
Quảng cáo online: Là loại hình quảng cáo mới trên hệ thống các website trên internet.
Triển lãm , hội chợ: trình chiếu ở tại hội chợ, giới thiệu tại các gian hàng.
Quảng cáo đĩa DVD: quảng cáo đĩa hài, phát hành đĩa.
Vai trò và đặc điểm của TVC
Bất kì ở dạng nào thì đều là hình thức chuyển tải thông tin từ chủ thể này đến chủ thể khác. Một mẫu quảng cáo thành công luôn phải có tính gợi mở và mời gọi. Thông điệp quảng cáo càng bén nhọn khả năng xuyên thủng càng cao. Quảng cáo nói chung và TVC nói riêng chỉ phát huy sức công phá khi tiếp cận đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh và thoả mãn đúng nhu cầu của khách hàng.
Một số mục đích trọng tâm của TVC hiện nay:
- Thúc đẩy bán hàng : Là một trong những mục tiêu đầu tiên của đa phần doanh nghiệp quảng cáo TVC
- Nâng tầm thương hiệu: Đây là dự án lớn, giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế thương hiệu trên thị trường.
- Nâng cao năng lực trạnh tranh sản phẩm.
TVC có thể xem như súng và chi phí phát sóng là đạn. Súng mà không có đạn là súng hết đạn, chỉ để ngắm chơi, chẳng doạ được ai.   Đặc điểm của TVC là có hình có tiếng, điện nước đầy đủ nên dễ dàng tiếp cận mục tiêu. Có điều cái giá phải trả là vô cùng lớn lại không chắc phần thắng. Vậy tại sao người ta vẫn đổ tiền vào làm TVC? Một vốn bốn lời, không thử sao biết.  Có TVC xem buồn ngủ, gây mê không hồi sức, và có TVC gây buồn cười. Thế làm TVC khó hay dễ, vui hay buồn, đắt hay rẻ?
Qui trình làm TVC lý tưởng bao gồm các bước sau:  
1. Agency nhận yêu cầu từ phía Client  
2. Creative brief được gửi xuống phòng sáng tạo  
3. Các kịch bản phác thảo ra đời
4. Client chọn một và đồng ý sản xuất  
5. Storyboard được gửi cho Production House để báo giá  
6. Giai đoạn tiền kỳ, sản xuất, hậu kỳ   
7. TVC hoàn thiện
Quảng cáo là thuyết phục và qui trình làm TVC cũng là qui trình thuyết phục. Một kịch bản (storyboard) trước khi được hoá kiếp thành TVC phải trải qua không biết bao nhiêu giông bão, cũng bị chặt chém và vượt tầng tầng lớp lớp khó khăn. 
Một phần rất quan trọng trước khi giai đoạn sản xuất bắt đầu, đó là Casting.
Diễn viên tham gia đóng phim quảng cáo khá đa dạng, một số khách hàng sử dụng chính nhân viên trong công ty mình, một số khách hàng lại chọn diễn viên từ nguồn casting chuyên nghiệp, một số lại chọn diễn viên nổi tiếng hoặc sao đang hot. Việc lựa chọn diễn viên sẽ tùy thuộc vào khả năng tài chính của công ty và quy mô của chiến dịch quảng cáo & Marketing.
Ngày nay, thời gian thực hiện TVC nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào ý tưởng kịch bản đơn giản hay phức tạp. Xin được làm rõ là kịch bản đơn giản không đồng nghĩa với ý tưởng tồi. Đôi khi mất cả năm để săn tìm một ý tưởng lớn, và thực hiện TVC chỉ trong một giờ. Đôi khi mất cả đời mà chẳng nghĩ ra được điều gì lớn lao cả. "30 giây quảng cáo, 60 năm cuộc đời" là thế.  
Các thuật ngữ liên quan
Client: Khách hàng đặt quảng cáo.  
Agency: Công ty thực hiện các dịch vụ quảng cáo theo đơn đặt hàng.  
Production House: Công ty sản xuất phim quảng cáo và các dịch vụ khác có liên quan theo đơn đặt hàng. Đôi khi client làm việc trực tiếp với Production House từ lên kịch bản đến sản xuất và hoàn thiện TVC. Đôi khi chỉ là chuyển lời thoại (lời bình) từ ngôn ngữ bất kỳ sang ngôn ngữ Việt. ( Adaptation )  
Producer: Nhà sản xuất. Người này là đại diện của Production House làm việc với Agency và Client. Vai trò cực kỳ quan trọng.  
Director: Đạo diễn. Ở phim trường, ông này là vua.  
Director Treatment: Xử lý góc máy của đạo diễn. Từ kịch bản của Agency, Director sẽ phát triển góc máy quay sao cho đẹp và hiệu quả nhất. Công việc này phải được sự chấp thuận của Creative Director và Client trước khi tiến hành quay phim.  
Director Reel: Các tác phẩm của Director do Production House giới thiệu để Agency và Client chọn ai bỏ ai đạo diễn cho TVC.  
Director of Photography (DOP)/ Cameraman: Người chuyển tải ý tưởng trên giấy của agency và tiếng la hét của Director thành những thướt phim đầy nghệ thuật, đậm cá tính.  
Art Director/ Set Designer: Người chỉ đạo mỹ thuật và dựng cảnh cho phim. Họ hô biến một ngôi nhà hoang thành toà lâu đài, làm phép cho khung cảnh trở nên lung linh, long lanh, lấp lánh dưới bầu trời đầy sao.  
Music Composer-Sound Engineer-Sound Designer: Người soạn nhạc cho phim.  
Hair, Make-up: Nghệ sĩ tạo hình cho mái tóc, khuôn mặt, biến đẹp thành xấu, biến xấu thành tệ, biến hoa nhài thành hoa hậu, biến hoa hậu thành hoa gì... tuỳ bạn tưởng tượng.  
Talent/ Extra Talent/ Background Talent: Diễn viên chính/ phụ/ quần chúng. Thù lao giảm dần tương ứng với vai diễn.  
Voice Talent: Người lồng tiếng.   Target Audience: Đối tượng của phim quảng cáo hay bạn xem đài.  
Concept: Ý tưởng chủ đạo. Một concept có thể phát triển ra hàng triệu triệu kịch bản khác nhau. Ví dụ như "Chỉ có thể là Heineken" hết năm này qua năm khác.  
Storyboard: Kịch bản quảng cáo được phát hoạ thành hình vẽ, miêu tả chi tiết cho từng cảnh quay. Đến đoạn nào thì ăn, đến lúc nào thì uống, đến khúc nào thì lăn đùng ra chết.  
Shooting Board: Là bản phát triển chi tiết đến từng giây của Storyboard. Đây là phần việc của Director. (Mở ngoặc giải thích thêm cho khỏi lăn tăn. Trong Storyboard thứ tự các cảnh là 1-2-3-4-5-6-7-8-9, thì ở Shooting Board, các cảnh có thể thay đổi 2-4-6-3-5-7... Phải quay cho hết cảnh trên bờ rồi mới chuyển camera xuống ruộng.)  
Shooting: Quay phim   Location: Địa điểm quay. Có thể trên trời, có thể địa ngục. Có thể ở Lâm Gia Trang, có thể là "Cồn Da Lạp". Tiền nào cảnh đó.  
Casting: Công tác tuyển chọn diễn viên.   Pre/ Post/ Production: Tiền kỳ/ Hậu kỳ. Giải thích lòng thòng nhễu nhão đôi khi không bằng ví von. Là đi chợ và trang trí (không nấu) món ăn TVC.   Production: Là quá trình xào, nấu, hầm, ninh,... miễn chín là được.  
Pre Production Meeting (PPM): Là cuộc họp thân tình giữa những con người xa lạ tìm đến nhau để bốn mặt một lời bao gồm client, agency, producer và director. Thường trước ngày quay từ một đến hai ngày.  
SFX/ Sound Effects/ Special Effects: Kỹ xảo âm thanh hay hiệu ứng đặc biệt. Tiếng rao, tiếng rên, tiếng nổ và nhiều tiếng động linh tinh khác.  
Computer Graphic Animation (CG): Có thể hiểu là cách biến hoá trên máy tính làm cho hình ảnh nhảy múa vui mắt. Số tiền đốt vào đây khá lớn.  
Off-Line: Là từ ngữ có nghĩa TVC đã quay xong nhưng chưa xử lý nhiều, chỉ cắt ráp đơn giản để kiểm tra, nhận feedback từ phía agency và client. Đây là giai đoạn xuất thô.  
On-Line: Hình ảnh, âm thanh, lời thoại đã nhập một, sẵn sàng đem phát sóng hay dự thi tranh giải. Đây là giai đoạn xuất tinh.  
On-Air: TVC đang phát sóng hay đang chạy.  
Off-Air: TVC ngừng phát sóng hay ngủ đông (có thể ngủ luôn).  
Budget: Tổng số tiền Client phải chuẩn bị để chi cho TVC.  
Làm TVC quảng cáo khó hơn hay dễ hơn làm phim?
Nếu như bạn nghĩ rằng thực hiện một sản phẩm quảng cáo 30 giây dễ hơn là làm một bộ phim 45 phút thì đó là suy nghĩ sai lầm.
Việc bạn phải đau đầu để làm sao có thể truyền tải được hết tinh thần và thông điệp của sản phẩm cũng như của nhà sản xuất đến với khách hàng chưa bao giờ là điều đơn giản. Mặc dù với thời lượng rất ngắn nhưng có thể thời gian sản xuất một TVC 45s có thể còn nhiều hơn là một chương trình truyền hình 45 phút. Những nhà biên kịch chuyên viết cho TVC quảng cáo luôn phải là những người có vốn kiến thức cực rộng, không chỉ trong lĩnh vực viết lách mà họ còn phải có một sự am tường về văn hóa, tôn giáo…. Có như thế thì mới mong truyền tải chính xác thông điệp của sản phẩm tới đúng đối tượng người dùng, TVC chính là điểm kết nối thể hiện sự am tường và chia sẻ hỗ trợ của nhà sản xuất đến với khách hàng.
Nguyễn Thoa
(tổng hợp)
Phản ứng:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

CÂU CHUYỆN HÔM NAY

SỰ KIỆN

THƯ MỜI THAM DỰ